Kinh nghiệm chọn nhẫn cưới: chất liệu, kiểu dáng và cách đo size chuẩn
Nhẫn cưới là món trang sức đeo gần như mỗi ngày trong nhiều chục năm, nên chọn sai chất liệu hay sai size sẽ khó chịu rấ...
Đọc thêm
Cùng gọi là vàng nhưng vàng 24K, 18K, 14K hay vàng 610, 416 có hàm lượng, màu sắc, độ cứng và giá bán lại rất khác nhau. Hiểu cách tính tuổi vàng giúp bạn đọc đúng hoá đơn và chọn đúng loại cho mục đích tích trữ hay đeo hằng ngày.
Bước vào một tiệm vàng, bạn sẽ thấy bảng giá có hàng loạt con số: vàng 9999, vàng 24K, 18K, 610, 14K, 416. Người bán gọi vàng ta, vàng tây, vàng Ý, vàng trắng. Với người không thường xuyên mua vàng, những cái tên này dễ gây nhầm lẫn, và nhầm lẫn thường dẫn đến việc trả giá không tương xứng hoặc bán lại thấp hơn dự tính.
Thực ra tất cả những cái tên đó chỉ xoay quanh một câu hỏi: trong món đồ này có bao nhiêu phần trăm là vàng nguyên chất. Nắm được con số đó, bạn sẽ hiểu vì sao giá chênh nhau, vì sao màu sắc khác nhau và nên chọn loại nào cho mục đích của mình.
Chữ K là viết tắt của karat, đơn vị đo độ tinh khiết của vàng. Hệ này chia vàng thành 24 phần: vàng 24K là gần như toàn bộ 24 phần đều là vàng, vàng 18K là 18 phần vàng trên 24, tức 75%. Tương tự, 14K là 14 trên 24, khoảng 58,3%.
Ở Việt Nam còn phổ biến cách gọi theo phần nghìn hoặc phần trăm. Vàng 9999 nghĩa là 99,99% vàng. Vàng 750 là 75%, tương đương 18K. Vàng 610 là khoảng 61% vàng, nằm giữa 14K và 15K. Vàng 416 là khoảng 41,6%, tương đương 10K. Các con số này thường được khắc bên trong nhẫn hoặc trên khoá dây chuyền.
| Tên gọi | Hàm lượng vàng | Dấu khắc thường gặp | Màu sắc |
|---|---|---|---|
| Vàng 24K (vàng ta, 9999) | khoảng 99,99% | 9999, 999, 24K | Vàng đậm, hơi ngả cam |
| Vàng 18K | 75% | 750, 18K | Vàng ấm, sáng |
| Vàng 610 | khoảng 61% | 610 | Vàng nhạt hơn 18K |
| Vàng 14K | 58,3% | 585, 14K | Vàng nhạt, sáng |
| Vàng 10K (vàng 416) | khoảng 41,7% | 416, 417, 10K | Vàng nhạt, dễ ngả màu |
Trong cách nói hằng ngày, vàng ta thường dùng để chỉ vàng 24K, còn vàng tây là tên gọi chung cho các loại vàng có tuổi thấp hơn, như 18K, 14K, 10K. Gọi là vàng tây vì loại vàng hợp kim này được dùng phổ biến trong trang sức phương Tây, nơi người ta ưu tiên độ cứng và kiểu dáng hơn là hàm lượng vàng tối đa.
Phần không phải vàng trong vàng tây là các kim loại pha như bạc, đồng, kẽm, niken hoặc palladium. Tỉ lệ pha quyết định màu sắc: pha nhiều đồng cho vàng hồng, pha palladium hoặc niken rồi xi rhodium cho vàng trắng, pha bạc và đồng cân bằng cho vàng vàng. Vì vậy, vàng hồng 18K và vàng trắng 18K đều có đúng 75% vàng, chỉ khác phần 25% còn lại.
Đây là nhầm lẫn khá phổ biến. Vàng trắng vẫn là vàng, thường ở tuổi 14K hoặc 18K, được pha kim loại màu trắng rồi phủ thêm một lớp rhodium để có màu trắng sáng. Sau khoảng 1 đến 2 năm đeo thường xuyên, lớp rhodium mòn dần và lộ ra màu hơi ngà, lúc đó chỉ cần mang đi xi lại. Bạch kim (platinum) là một kim loại quý khác hẳn, trang sức thường có hàm lượng 95% và dấu khắc Pt950, màu trắng tự nhiên không cần xi, nặng tay hơn và giá cao hơn vàng trắng cùng kiểu dáng.

Vàng nguyên chất là kim loại rất mềm. Bạn có thể để lại vết trên nhẫn vàng 24K chỉ bằng cách cắn nhẹ hoặc va vào mép bàn. Đó là lý do nhẫn trơn 24K sau vài năm đeo thường bị méo, bề mặt chi chít vết xước và các hoa văn nhỏ bị mờ đi.
Kim loại pha giúp vàng cứng hơn. Tuổi vàng càng thấp, món đồ càng cứng và giữ dáng tốt hơn, nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi mồ hôi và hoá chất hơn vì phần hợp kim lớn hơn. Có thể tóm gọn như sau:
Giá một món trang sức gồm hai phần: giá trị vàng theo trọng lượng và tuổi vàng, cộng với tiền công chế tác. Với vàng 24K dạng nhẫn trơn hay vàng miếng, tiền công rất thấp nên chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra thường chỉ vài phần trăm. Đây là lý do người Việt thường chọn 24K để tích trữ.
Với vàng tây, tiền công thường chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều, nhất là ở các mẫu gắn đá, hoa văn phức tạp. Khi bán lại, tiệm thường chỉ tính giá trị vàng theo tuổi và trọng lượng, còn tiền công và đá tấm nhỏ hầu như không được tính. Vì vậy, một chiếc lắc 18K mua với giá cao có thể chỉ bán lại được một phần đáng kể thấp hơn giá mua, dù giá vàng thế giới không đổi.
Một ví dụ dễ hình dung: trọng lượng vàng thường tính theo chỉ, 1 chỉ bằng 3,75 gram và 1 lượng (cây) bằng 10 chỉ, tức 37,5 gram. Một chiếc nhẫn 18K nặng 1 chỉ chứa khoảng 0,75 chỉ vàng nguyên chất, nhẫn 14K cùng trọng lượng chứa khoảng 0,58 chỉ. Phần chênh lệch này phản ánh trực tiếp vào giá thu mua.
Khi mua, hãy kiểm tra hoá đơn có ghi rõ tuổi vàng, trọng lượng tổng, trọng lượng đá (nếu có), tiền công và chính sách thu đổi. Một số nơi ghi trọng lượng bao gồm cả đá, nên nếu muốn biết chính xác lượng vàng, cần hỏi thêm trọng lượng vàng sau khi trừ đá.

Bằng mắt thường rất khó phân biệt chính xác 18K với 610 hay 14K. Những cách kiểm tra đáng tin cậy gồm:
Các mẹo như cắn thử, dùng nam châm hay thả vào giấm chỉ giúp loại trừ đồ giả rõ ràng, nhưng không xác định được tuổi vàng. Nếu nghi ngờ, cách chắc chắn nhất là mang đến nơi có máy đo và yêu cầu in kết quả.
Không có loại vàng tốt nhất cho mọi người, chỉ có loại phù hợp với mục đích:
Trước khi mua, hãy tự hỏi món đồ này để đeo hay để giữ. Nếu để giữ, ưu tiên hàm lượng cao và tiền công thấp. Nếu để đeo, ưu tiên độ bền và kiểu dáng, rồi chấp nhận rằng tiền công là chi phí cho cái đẹp chứ không phải khoản đầu tư. Luôn giữ hoá đơn, kiểm tra dấu khắc và hỏi rõ chính sách thu đổi của cửa hàng ngay từ đầu. Chỉ vài phút hỏi kỹ có thể giúp bạn tránh được khoản chênh lệch đáng kể khi cần bán lại sau này.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Nhẫn cưới là món trang sức đeo gần như mỗi ngày trong nhiều chục năm, nên chọn sai chất liệu hay sai size sẽ khó chịu rấ...
Đọc thêmBạc xỉn màu, vàng mất độ bóng, dây chuyền rối thắt nút là chuyện gần như ai cũng gặp. Phần lớn nguyên nhân đến từ thói q...
Đọc thêmĐeo nhiều lớp dây chuyền, nhiều chiếc vòng tay cùng lúc trông tinh tế hay rườm rà phụ thuộc vào độ dài dây, độ dày, màu...
Đọc thêm